Tài nguyên dạy học

LIÊN KẾT WEB

BÂY GIỜ LÀ:

LỊCH VẠN NIÊN

Ảnh ngẫu nhiên

167.jpg IMG_0032.jpg NNCBCC.swf KHAI_GIANG.swf Small_nvn_1238171031.jpg Balan3.jpg IMG_2104.jpg Traicongdoan.swf Myalbum.swf IMG_0559.jpg

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của trường THCS Lê Lợi - TP Tam Kỳ - Quảng Nam

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Dạy học dựa trên Giải quyết vấn đề

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Hồ Tấn Kính (trang riêng)
    Ngày gửi: 16h:14' 24-09-2012
    Dung lượng: 1.6 MB
    Số lượt tải: 48
    Số lượt thích: 0 người
    Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề
    Quảng Nam, tháng 7 & 8 năm 2012

    Buổi 1: 8g00 -Khai mạc – công tác tổ chức
    8g30 -Khái niệm liên quan (DHDTGQVĐ)
    -Ưu điểm, hạn chế (DHDTGQVĐ)
    Buổi 2: 14g -Các kĩ năng cần thiết (DHDTGQVĐ)
    -Quy trình dạy học (DHDTGQVĐ)
    Buổi 3: 7g30 -Tìm hiểu các mức độ vận dụng
    -Thực hành
    10g00 -Tổng kết tập huấn
    Chương trình tập huấn
    CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH
    Khái niệm
    Ưu điểm, hạn chế
    Quy trình
    Kỹ năng cần có
    Lập kế hoạch
    Thực hành
    Kế hoạch nhân rộng
    MỘT SỐ KHÁI NIỆM
    VẤN ĐỀ
    TÌNH HUỐNG
    TÌNH HUỐNG
    CÓ VẤN ĐỀ
    DẠY HỌC
    NÊU VẤN ĐỀ
    DẠY HỌC
    DỰA TRÊN
    GIẢI QUYẾT
    VẤN ĐỀ
    “Điều cần được xem xét,
    nghiên cứu, giải quyết”

    “Câu hỏi hay một điều gì đó chứa đựng sự nghi ngờ, không chắc chắn, khó khăn được đưa ra để thảo luận hay tìm kiếm giải pháp”
    “Sự diễn biến của tình hình (tổng thể những sự kiện, hiện tượng có quan hệ với nhau, diễn ra trong một không gian, thời gian nào đó, cho thấy một tình trạng hoặc xu thế phát triển của sự vật), về mặt cần phải đối phó”
    “Là tình huống mà trong mối quan hệ với chủ thể hành động, nảy sinh mâu thuẫn giữa một bên chủ thể có nhu cầu giải quyết tình huống đó với một bên những tri thức, kỹ năng và phương pháp hiện có của chủ thể chưa đủ để giải quyết.”
    “Là toàn bộ những hoạt động như tổ chức tình huống có vấn đề, biểu đạt vấn đề và chỉ ra cho HS sự giúp đỡ cần thiết khi giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng chỉ đạo quá trình hệ thống hóa kiến thức và củng cố kiến thức thu được.”
    “Là dạy học dựa trên giải quyết vấn đề thực tiễn có liên quan đến người học và thuộc phạm vi nội dung học tập đã được qui định trong ‘chuẩn kiến thức.”
    KHÁI NIỆM PBL
    Tìm hiểu sâu hơn về khái niệm Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề (Problem based learning – gọi tắt PBL):
    + Đọc tài liệu trang 7, 8 và trang 22, 23.
    + Tự rút ra kết luận ngắn gọn:
    Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề là gì?
    (Bản chất, đặc điểm, sự cần thiết của PBL)
    KHÁI NIỆM
    Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề là phương pháp dạy học theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm. Trong đó học sinh học về các chủ đề thông qua các vấn đề có trong thực tiễn và liên quan tới nội dung môn học. Làm việc theo nhóm, học sinh xác định những điều đã biết, những điều cần biết, và làm thế nào để có được những thông tin cần biết trong việc giải quyết vấn đề. (Answers.com)
    Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề là dạy học dựa trên các vấn đề thực tiễn có liên quan đến người học và liên quan đến nội dung học tập đã được quy định trong “chuẩn kiến thức, kỹ năng”. Trên cơ sở đó, người học tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định hướng học tập, hợp tác, các kỹ năng tư duy bậc cao, kỹ năng sống. (PGS.TS Nguyễn Văn Khôi)
    THỰC TIỄN












    DẠY HỌC DỰA TRÊN GQVĐ
    NỘI DUNG MÔN HỌC
    HAY LIÊN MÔN
    VẤN ĐỀ
    Khởi
    đầu
    Vận
    dụng
    Khởi
    đầu
    KK
    TÌM HIỂU
    G.Q
    Ví dụ: Dạy học nêu vấn đề

    Nghiền lá rau muống, chiết lấy dung dịch màu xanh cho vào ống nghiệm, không sử dụng hóa chất, làm thế nào để dung dịch chuyển sang màu nâu?
    Ví dụ: Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề


    1. Trong bữa cơm gia đình, mọi người đều thích món rau muống luộc nên chị em thường làm món này. Nhưng sau mỗi lần chị em luộc rau đều bị mẹ mắng vì rau luôn bị bầm và không giữ được màu xanh tươi. Em có cách nào giúp chị em luộc rau cho xanh hơn không?
    2. Ở nhà mẹ thường làm món “rau muống xào tỏi”, vẫn có màu xanh, ăn ngon nhưng không được giòn. Một hôm đi ăn nhà hàng, cũng món ấy nhưng rau xanh và ăn rất giòn, ngon. Em làm sao giúp mẹ làm món ăn này như nhà hàng đã làm?



    THẢO LUẬN NHÓM
    (15 phút)
    Phân biệt sự khác nhau giữa
    Dạy học nêu vấn đề

    Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề
    Phân biệt hai phương pháp dạy học
    Dạy học nêu vấn
    đề là PPDH trong
    đó HS tham gia
    một cách có hệ thống
    vào quá trình giải
    quyết các vấn đề và
    các bài toán có vấn
    đề được xây dựng
    theo nội dung tài
    liệu học trong
    chương trình.
    Dạy học dựa trên
    giải quyết vấn đề
    là dạy và học dựa
    trên giải quyết vấn
    đề thực tiễn có liên
    quan đến người học
    và nội dung học tập
    được quy định trong
    “chuẩn kiến thức,
    kỹ năng”.

    Phân biệt hai phương pháp dạy học
    Dạy học
    nêu vấn đề
    - Vấn đề nằm trong
    bài học => vận dụng
    kiến thức trong bài
    học để giải quyết.
    Vấn đề có thể nêu
    trước, trong và sau
    khi tìm hiểu bài học.
    Dạy học dựa trên
    giải quyết vấn đề
    - Vấn đề nằm trong
    thực tiễn đời sống có
    liên quan đến bài học,
    bản thân=>Tìm hiểu
    bài học, vận dụng
    kiến thức trong bài
    học và vốn sống
    thực tế để giải quyết.
    Vấn đề nêu ngay
    từ đầu tiết học/đầu
    hoạt động.

    ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ CỦA PBL


    - Thảo luận với người bên cạnh và đánh dấu X vào phần ưu điểm và hạn chế của PBL ở phiếu phụ lục 2, trang 25, 26.
    GIÁ TRỊ CỦA PBL (Problem - based Learning)
    Thuộc nhóm phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm
    Gắn nội dung môn học với thực tiễn
    Kích thích hứng thú học tập của học sinh
    Rèn luyện khả năng tự định hướng, tự học cho học sinh
    Phát triển tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định
    Thúc đẩy làm việc hợp tác, phát triển kỹ năng sống

    HS: - Có thể không làm đúng những điều GV muốn (tinh thần, thái độ, phương pháp làm việc,…) -> Quản lý, giúp đỡ, thuyết phục.
    - Không đủ khả năng khám phá hết yêu cầu của bài học/hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hoặc đi sai hướng giải quyết vấn đề -> Không cầu toàn, theo dõi, chấn chỉnh kịp thời.
    GV: - Khó khăn khi chọn vấn đề phù hợp -> Đối chiếu nội dung, yêu cầu bài học với thực tế; cách xây dựng tình huống có vấn đề.
    - Tốn thời gian để lập kế hoạch và thực hiện dạy học dựa trên giải quyết vấn đề -> Chú ý quy trình thực hiện.
    HẠN CHẾ VÀ HƯỚNG KHẮC PHỤC
    TRẢI NGHIỆM 1
    * Tình huống 1:
    Năm sinh viên quyết định tổ chức một buổi liên hoan, mỗi người đóng góp 100 nghìn đồng. Họ đưa 500 nghìn đồng cho mẹ của một sinh viên đi siêu thị mua thức ăn. Hóa đơn thanh toán tổng cộng hết 430 ngàn đồng, còn lại 70 nghìn đồng. Bà trả lại cho mỗi sinh viên 10 nghìn đồng và giữ lại 20 nghìn đồng. Điều này có nghĩa là mỗi sinh viên chi cho bữa tiệc 90 nghìn đồng và người đi chợ giữ 20 nghìn đồng (vì lẻ không chia được). Từ lập luận trên ta có, số tiền được tính như sau:
    5 sinh viên x 90 nghìn đồng = 450 nghìn đồng; và 450 nghìn + 20 nghìn = 470 ngìn đồng. Vậy thì, so với 500 nghìn đồng ban đầu, 30 ngàn đồng thiếu hụt ở đâu?

    TRẢI NGHIỆM 2
    * Tình huống 2:
    Nam đi mua bánh Pizza nhân ngày sinh nhật em trai, cửa hàng có 2 loại bánh nhưng có độ dày như nhau: bánh nhỏ đường kính 10cm giá 20 ngàn đồng; bánh to đường kính 20cm giá 75 ngàn đồng. Nam băn khoăn, mua loại nào sẽ rẻ hơn.
    CÁC TÌNH HUỐNG MẪU
    MẪU 3
    Miền Bắc Việt Nam có mùa đông lạnh, mùa hè nóng.
    Tại sao?
    CÁC TÌNH HUỐNG MẪU
    - Miền Bắc Việt Nam có mùa đông lạnh, mùa hè nóng.Tại sao?
    Để trả lời câu hỏi này thật không đơn giản.


    Cần nghiên cứu:
    - Khí hậu (vĩ độ địa lí miền Bắc VN so với đường xích đạo, đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu lục địa, gió mùa…)
    - Chuyển động của quả đất quay quanh mặt trời
    Bản đồ
    Chuyển động
    1. Khái niệm vấn đề: Vấn đề là câu hỏi hay
    một điều gì đó chứa đựng sự nghi ngờ, sự
    không chắc chắn, khó khăn và được đưa
    ra để thảo luận hay tìm kiếm giải pháp.
    2. Các mức độ thể hiện của vấn đề:
    * Mức độ 1: Bài tập vận dụng
    * Mức độ 2: Câu chuyện thực tế dựa trên bài tập
    * Mức độ 3: Tình huống thực tế
    (Đối chiếu 3 mức độ trong tài liệu, tr.27-29)
    YÊU CẦU VỀ VẤN ĐỀ
    Tồn tại mâu thuẫn, kiến thức đã có không đủ giải quyết;
    Có cơ sở từ nội dung học tập;
    Liên quan tới thực tiễn;
    Giúp pháp triển kỹ năng tư duy ở mức cao;
    Thu hút sự quan tâm, hứng thú từ người học;
    Khuyến khích hợp tác, giải quyết vấn đề.
    YÊU CẦU VỀ VẤN ĐỀ
    NỘI DUNG
    HÌNH THỨC
    YÊU CẦU VỀ VẤN ĐỀ
    YÊU CẦU VỀ VẤN ĐỀ
    PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ

    MỨC ĐỘ CỦA VẤN ĐỀ
    2. Các mức độ thể hiện của vấn đề:
    * Mức độ 1: Bài tập vận dụng
    * Mức độ 2: Câu chuyện thực tế dựa trên bài tập
    * Mức độ 3: Tình huống thực tế
    (Đối chiếu 3 mức độ trong tài liệu, tr.27-29)
    Nghiên cứu tài liệu từ trang 27 đến trang 30
    Trình bày lại các mức độ của vấn đề;
    Mỗi mức độ cho 01 ví dụ cụ thể.

    Bài TỰ CHỦ, môn GDCD lớp 9
    Nội dung kiến thức của bài này:
    1.Tự chủ là làm chủ bản thân. Người biết tự chủ là người làm chủ được những suy nghĩ, tình cảm, hành vi của mình trong mọi hoàn cảnh, tình huống, luôn có thái độ bình tĩnh, tự tin và biết tự điều chỉnh hành vi của mình.
    2.Tự chủ là một đức tính quý giá, giúp con người sống đúng đắn, cư xử có đạo đức, có văn hóa. Tự chủ giúp ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, cám dỗ.
    3.Cần rèn luyện tính tự chủ: tập suy nghĩ kĩ trước khi hành động. Sau đó phải tự kiểm điểm xem những hành động của mình là đúng hay sai.
    MỨC ĐỘ CỦA VẤN ĐỀ


    Mức độ 1:
    Khi bị kẻ khác rủ rê, lôi kéo làm việc xấu hoặc vi phạm pháp luật, em có theo họ không? Vì sao?
    Mức độ 2:
    Câu chuyên tình huống:
    Chủ nhật, Hằng được mẹ cho đi chơi phố. Qua các cửa hiệu có nhiều quần áo mới đúng mốt, bộ nào Hằng cũng thích. Cô bé đòi mẹ mua hết bộ này đến bộ khác làm mẹ rất bực mình. Buổi đi chơi mất vui.
    Theo em, vì sao vậy?
    MỨC ĐỘ CỦA VẤN ĐỀ

    Mức độ 3:
    Câu chuyện tình huống:
    Nam là con út trong một gia đình nhà khá giả và được bố mẹ cưng chiều. Những năm đầu của cấp THCS, Nam là học sinh ngoan, học tốt nhưng đến đầu năm học lớp 9, Nam bị bạn bè xấu rủ rê bỏ học đi chơi game, hút thuốc lá. Có lúc Nam cùng bạn uống bia, đua xe máy trên đường phố. Đến cuối năm học, do bỏ học nhiều ngày và có học lực kém, Nam đã không được xét TN THCS. Đang lúc buồn chán, tuyệt vọng, có người đến rủ Nam đi hút thử cần sa để quên sự đời. Nam nghe theo và cứ thế, một lần, hai lần…Nam đã bị nghiện. Để có tiền hút, chích, Nam tham gia vào một vụ trấn lột người đi đường và bị bắt.
    Theo em, Nam đã sai ở những điểm nào? Vì sao Nam làm sai như vậy? Nếu em là thành viên của một tổ chức xã hội, em sẽ nói với Nam những gì để bạn ấy ăn năn hối cải?
    MỨC ĐỘ CỦA VẤN ĐỀ
    KĨ NĂNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
    * Xem tài liệu trang 32-33
    MỘT SỐ KĨ NĂNG KHÁC
    * Xem tài liệu trang 34-39
    QUY TRÌNH PBL
    THUẬT NGỮ TRONG QUY TRÌNH
    1.GT TH chứa đựng Vấn đề
    2.Xác định và tìm hiểu Vấn đề
    3.Đặt câu hỏi
    4.Xác định KT cần cho GQVĐ
    5.Tự nghiên cứu
    6.Viết BC kết luận, tạo SP
    7.Tự tìm hiểu KT liên quan
    8.Yếu tố đã biết
    9.Đề xuất ý tưởng, GT
    10.Giải quyết Vấn đề
    11.Kiểm nghiệm YT, GT
    12.Yếu tố chưa biết
    13.Liệt kê KT chưa biết
    14.Trình bày kết quả
    15.Định hướng nguồn TT
    16.HTH kiến thức mới
    17.Thể chế hóa KT học được
    CÔNG VIỆC CỦA GV VÀ HS
    GIÁO VIÊN
    Hình thành nhóm
    Giới thiệu tình huống chứa đựng vấn đề; giới thiệu vấn đề;
    Thúc đẩy các nhóm;
    Phản hồi kết quả hoạt động nhóm;
    Sử dụng các câu hỏi để định hướng các hoạt động của học sinh và đưa ra các gợi ý nếu cần
    HỌC SINH
    Xác định rõ vấn đề
    Đề xuất ý tưởng, giải pháp; Xác định những kiến thức đã biết, chưa biết để giải quyết vấn đề
    Tự nghiên cứu, tìm hiểu các thông tin chưa biết
    Kiểm nghiệm giải thuyết, giải pháp
    Trình bày kết quả giải quyết vấn đề

    Bài tập về nhà:

    Thiết kế một hoạt động cụ thể theo phương pháp dạy học dựa trên giải quyết vấn đề.

    Bốn mức độ
    dạy học dựa trên giải quyết vấn đề
    THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
    DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
    Mẫu thiết kế


    THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG PBL
    (Làm việc theo nhóm trong 60 phút để thiết kế hoạt động dạy học DTGQVĐ. Mẫu thiết kế ở trang 58)
    TRÌNH BÀY SẢN PHẨM
    Mỗi nhóm cử 01 đại diện giới thiệu “hoạt động dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”, các thành viên còn lại, tới thăm quan các “gian hàng” của nhóm khác, suy nghĩ và viết bình luận, nhận xét cho sản phẩm.
    Đại diện các nhóm trình bày
    Các vấn đề đã tạo ra trong hội thảo
    Kế hoạch “hoạt động dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”, các nhóm đóng góp ý kiến.
    MINH HỌA
    Một hoạt động dạy học dựa trên giải quyết vấn đề
    Môn Ngữ văn
    Nhận xét chung về
    Phương pháp dạy học
    dựa trên giải quyết vấn đề


    1. Những định nghĩa về phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
    Tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận mà có thể định nghĩa phương pháp dạy học dựa trên vấn đề theo các cách sau đây:
    - Dạy học dựa trên vấn đề là hoạt động học tập trong bối cảnh thực tiễn nhằm cung cấp kỹ năng giải quyết vấn đề, tăng cường năng lực tự học và khả năng làm việc nhóm.
    - Dạy học dựa trên vấn đề là phương pháp học tập trong đó các vấn đề có liên quan đến thực tiễn được lựa chọn cẩn thận và được sử dụng làm nền tảng cho chương trình học.
    - Dạy học dựa trên vấn đề là một cách tiếp cận tổng thể trong giáo dục, ở góc độ chương  trình học lẫn quá trình học: chương trình học bao gồm những vấn đề được lựa chọn và thiết kế cẩn thận nhằm giúp người học tiếp nhận tri thức một cách có phê phán, tăng cường kỹ năng giải quyết vấn đề, khả năng tự học và kỹ năng làm việc nhóm; quá trình học có tính hệ thống như quá trình giải quyết vấn đề hoặc thử thách có thể gặp trong đời sống.
    - Dạy học dựa trên vấn đề là phương pháp dạy học nhằm giúp người học tiếp nhận tri thức và kỹ năng thông qua một quá trình học-hỏi được thiết kế dựa trên những câu hỏi,  những vấn đề, và những nhiệm vụ thực tiễn được xây dựng cẩn thận.
    2. Mục tiêu của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
    Phương pháp dạy học dựa trên vấn đề hướng đến các mục tiêu tổng quát sau:
    - Về nhận thức: giúp người học có cơ hội nắm chắc kiến thức theo chiều rộng lẫn chiều sâu. Điều này có được là do trong quá trình tìm hiểu và giải quyết vấn đề, người học hoàn toàn chủ động trong việc xác định những nội dung có liên quan để nghiên cứu, tìm hiểu, và vận dụng.
    - Về kỹ năng: giúp người học phát triển năng lực đọc tài liệu, kỹ năng nghiên cứu khoa  học, kỹ năng giải quyết vấn đề, các kỹ năng xã hội như: làm việc nhóm, thuyết trình, tranh luận, thương lượng, … Những kỹ năng này được hình thành trong quá trình người học nghiên cứu, vận dụng tài liệu, làm việc cùng với nhóm để giải quyết vấn đề và sau đó là trình bày kết quả trước tập thể lớp.
    - Về thái độ: giúp người học cảm thấy gắn bó và yêu thích môn học và sự học, thấy được những giá trị của hoạt động nhóm đối với bản thân. Sự thay đổi về thái độ như vậy sẽ diễn ra từng bước theo quá trình phát triển của phương pháp dạy học nếu được tổ chức có hiệu quả.
    3. Những đặc điểm của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
    3.1 Vấn đề là bối cảnh trung tâm của hoạt động dạy và học:
    Có thể nói rằng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề đảo lộn thứ tự của hoạt động dạy và học nếu so với các phương pháp truyền thống ở đó thông tin được giảng viên (GV) trình bày từ thấp đến cao theo một trình tự nhất định, và người học sẽ chỉ được tiếp cận với một vấn đề cần được lý giải (nếu có) một khi họ đã được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết. Trong phương pháp DHDTVĐ, người học được tiếp cận với vấn đề ngay ở giai đoạn đầu của một đơn vị bài giảng. Vấn đề có thể là một hiện tượng của tự nhiên hoặc là một sự kiện/tình huống đã, đang hoặc có thể sẽ diễn ra trong thực tế và chứa đựng những điều cần được lý giải.
    3.2 Người học tự tìm tòi để xác định những nguồn thông tin giúp giải quyết vấn đề:
    Trên cơ sở vấn đề được nêu ra, chính người học phải chủ động tìm kiếm thông tin thích hợp để giải quyết vấn đề. Thông tin có thể ở nhiều dạng và từ nhiều nguồn khác nhau (sách, báo, phim, ảnh, từ internet…). Nói cách khác, chính người học gần như phải tự trang bị cho mình phần “lý thuyết” nhằm có đủ kiến thức để tiếp cận và giải quyết vấn đề.
    3.3 Thảo luận nhóm là hoạt động cốt lõi:
    Mặc dù phương pháp có thể được áp dụng cho riêng từng người học, trong đa số các ứng dụng người ta thường kết hợp với hoạt động nhóm. Thông qua thảo luận ở nhóm nhỏ, người học chia sẻ nguồn thông tin và cùng nhau hình thành các giả thuyết giúp giải quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến kết luận.
    Nhờ hoạt động nhóm, người học được rèn luyện thêm các kỹ năng cần thiết khác ngoài mục đích lĩnh hội kiến thức.
    3.4 Vai trò của giáo viên mang tính hỗ trợ:
    Giáo viên đóng vai trò định hướng (chỉ ra những điều cần được lý giải của vấn đề), trợ giúp (chỉ ra nguồn thông tin, giải đáp thắc mắc,…), đánh giá (kiểm tra các giả thuyết và kết luận của người học), hệ thống hóa kiến thức, khái quát hóa các kết luận.
    4. Phân loại vấn đề: Vấn đề dùng trong dạy học có thể được phân thành năm dạng, từ đơn giản đến phức tạp như sau [5]:
    * Dạng I: Vấn đề được giáo viên và người học (NH) biết cả về nội dung, phương pháp và giải pháp. Dạng này được dùng để kiểm tra những điều người học đã được học hoặc đã được làm quen.
    Ví dụ: Hãy tìm nghiệm của phương trình: 3×2 – 8x + 5 = 0
    * Dạng II: Vấn đề được giáo viên và người học biết về nội dung. Về phương pháp và giải pháp, giáo viêm nắm rõ còn người học thì chưa biết và họ cần phải đưa ra quan điểm riêng.
    Ví dụ: Hãy đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế hao phí điện năng trong phạm vi của một cơ quan, xí nghiệp.
    * Dạng III: Vấn đề được giáo viên và người học biết về nội dung. Về phương pháp và giải pháp, giáo viên có thể biết đầy đủ hoặc một phần, còn người học thì chưa biết và họ cần phải đưa ra quan điểm riêng.
    Ví dụ: Hãy xây dựng các phương trình toán bao hàm ba con số: 2, 3, 5.
    * Dạng IV: Vấn đề được giáo viên và người học biết về nội dung. Về phương pháp và giải pháp, cả giáo viên lẫn người học đều chưa biết.
    Ví dụ: Làm thế nào để một trái bóng đá có thể chìm trong nước?
    * Dạng V: Giáo viên và người học đều chưa biết nội dung của vấn đề cũng như phương pháp và giải pháp tiến hành.
    Ví dụ: Hãy đưa ra ba vấn đề quan trọng nhất đối với sự phát triển của Quốc gia và cách thức giải quyết các vấn đề đó.
    5. Ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học dựa trên vấn đề
    5.1 Ưu điểm
    - Phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập: Vì phương pháp dạy học dựa trên vấn đề dựa trên cơ sở tâm lý là kích thích hoạt động nhận thức bởi sự tò mò và ham hiểu biết cho nên thái độ học tập của người học mang nhiều yếu tố tích cực. Năng lực tư duy của người học một khi được khơi dậy sẽ giúp họ cảm thấy thích thú và trở nên tự giác hơn trên con đường tìm kiếm tri thức.
    - Người học được rèn luyện các kỹ năng cần thiết: Thông qua hoạt động tìm kiếm thông tin và lý giải vấn đề của cá nhân và tập thể, người học được rèn luyện thói quen/kỹ năng đọc tài liệu, phương pháp tư duy khoa học, tranh luận khoa học, làm việc tập thể… Đây là những kỹ năng rất quan trọng cho người học đối với công việc sau này của họ.
    - Người học được sớm tiếp cận những vấn đề thực tiễn: Giáo dục của ta bấy lâu nay thường bị phê phán là xa rời thực tiễn. Phương pháp này có thể giúp người học tiếp cận sớm với những vấn đề đang diễn ra trong thực tế có liên quan chặt chẽ với chuyên ngành đang học; đồng thời họ cũng được trang bị những kiến thức, kỹ năng để giải quyết những vấn đề đó.
    - Bài học được tiếp thu vừa rộng vừa sâu, được lưu giữ lâu trong trí nhớ người học: Do được chủ động tìm kiếm kiến thức và vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề, người học có thể nắm bắt bài học một cách sâu sắc và vì vậy họ nhớ bài rất lâu so với trường hợp tiếp nhận thông tin một cách thụ động thông qua nghe giảng thuần túy.
    - Đòi hỏi giáo viên không ngừng vươn lên: Việc điều chỉnh vai trò của giáo viên từ vị trí trung tâm sang hỗ trợ cho hoạt động học tập đòi hỏi nhiều nổ lực từ phía giáo viên. Đồng thời theo phương pháp này, giáo viên cần tìm tòi, xây dựng những vấn đề vừa lý thú vừa phù hợp với môn học và thời gian cho phép; biết cách xử lý khéo léo những tình huống diễn ra trong thảo luận… Có thể nói rằng phương pháp dạy học dựa trên vấn đề tạo môi trường giúp giáo viên không ngừng tự nâng cao trình độ và các kỹ năng sư phạm tích cực.
    5.2 Nhược điểm
    - Khó vận dụng ở những môn học có tính trừu tượng cao: Phương pháp này không cho kết quả như nhau đối với tất cả các môn học, mặc dù nó có thể được áp dụng một cách rộng rãi. Thực tế cho thấy những môn học gắn bó càng nhiều với thực tiễn thì càng dễ xây dựng vấn đề, và vì vậy khả năng ứng dụng của phương pháp càng cao.
    - Khó vận dụng cho lớp đông: Lớp càng đông thì càng có nhiều nhóm nhỏ vì vậy việc tổ chức, quản lý sẽ càng phức tạp. Một GV rất khó theo dõi và hướng dẫn thảo luận cho cả chục nhóm người học. Trong trường hợp này, vai trò trợ giảng sẽ rất cần thiết.
    -----------------------
    Add your company slogan
    Thank You !
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng RAR và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓


    Chào mừng năm học mới 2014 -2015